Cận thị là gì

Cận thị là tật khúc xạ phổ biến nhất ở người trẻ tuổi. Mắt cận sẽ nhìn ở gần tốt hơn nhìn xa. Cận thị thường xuất hiện ở trẻ nhỏ và tiến triển nhanh hơn khi trẻ đi học.

Đối với mắt bình thường, ánh sáng từ những vật ở xa sẽ hội tụ ngay trên võng mạc. Nhưng ở mắt cận thị, do trục nhãn cầu quá dài làm cho ánh sáng hội tụ ở trước võng mạc, khiến cho hình ảnh của những vật ở xa trở nên mờ.

Kính gọng, kính tiếp xúc hoặc phẫu thuật khúc xạ có thể làm các tia sáng hội tụ đúng ngay trên võng mạc, qua đó chỉnh được tật cận thị.

Tuy nhiên, cách tốt nhất vẫn là phòng chống cận thị hoặc hạn chế tình trạng tăng độ cận ngay từ khi còn nhỏ vì cận thị cao thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh ảnh hưởng đến thị lực sau này.

Người cận thị nhìn như thế nào?

 

Tỉ lệ cận thị trên toàn cầu

Theo tổ chức y tế thới giới (WHO), tính đến năm 2010, có gần 1,9 tỉ người trên toàn cầu (27% dân số) hiện đang mắc tật cận thị. Và tỉ lệ mắc cận thị vẫn đang gia tăng nhanh chóng qua từng năm. Theo ước tính, tỉ lệ mắc cận thị cao nhất là  ở các nước châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore, tỉ lệ lên đến 50% dân số.

Cận thị nhẹ và trung bình (từ -0.50 đến dưới -5.00D) và cận thị nặng (trên -5.00D). Ở những người bị cận thị nặng, do trục nhãn cầu quá dài sẽ làm tăng nguy cơ xuất hiện các bệnh lý nguy hiểm ở mắt (Cận thị bệnh lý)Dựa trên mức độ cận thị, có thể chia thành: Phân độ cận  thị và nguy cơ

Cận thị bệnh lý là  trường hợp cận thị nặng với những bất thường ở đáy mắt gây ra do cận thị như là thoái hóa hoàng điểm hay glaucoma (cườm nước), đục thủy tinh thể (cườm khô), bong võng mạc.

Theo nghiên cứu của Viện thị giác Brien Holden và tổ chức Y tế thế giới WHO, đến năm 2050, phân nửa dân số trên toàn cầu (khoảng 5 tỉ người) sẽ bị cận thị và 1/5 trong số đó (1 tỉ người) có nguy cơ mù lòa do cận thị nặng. Do đó, việc phát hiện sớm và kiểm soát quá trình tiến triển độ cận là mối quan tâm hàng đầu của các chuyên gia nhãn khoa hiện nay.

Các yếu tố nguy cơ gây cận thị

Trẻ có những yếu tố nào thì dễ mắc cận thị hơn những trẻ khác?

Có 2 yếu tố góp phần vào sự hình thành và tiến triển độ cận của trẻ: yếu tố di truyền và yếu tố môi trường.

Yếu tố duy truyền: trẻ có bố (hoặc mẹ) bị cận thị sẽ có nguy cơ mắc cận cao hơn những trẻ khác. Ngoài ra, những trẻ thuộc chủng tộc Á Đông  cũng sẽ dễ bị cận thị hơn những chủng tộc khác.

Yếu tố môi trường: nhìn gần nhiều và hạn chế thời gian vui chơi, hoạt động ngoài trời cũng có thể khiến trẻ tăng nguy cơ mắc cận thị.

 Kiểm soát cận thị

Các phương pháp hạn chế nguy cơ mắc cận thị và kiểm soát cận thị bao gồm:

Tăng thời gian hoạt đông ngoài trời.

Phương pháp quang học.

Phương pháp dùng thuốc liệt điều tiết.

Tăng thời gian hoạt đông ngoài trời

Nhiều nghiên cứu cho rằng việc  dành nhiều thời gian để vui chơi, hoạt động ngoài trời (ít nhất 2 tiếng mỗi ngày) có thể làm giảm nguy cơ bị cận thị ở trẻ. Đối với những trẻ cận thị, việc dành nhiều thời gian ngoài trời hơn cũng làm cho độ cận của trẻ tiến triển thấp hơn những trẻ khác.

Cơ chế của việc hoạt động ngoài trời tác động đến cận thị hiện vẫn còn chưa rõ. Có giả thuyết cho rằng việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời sẽ làm cho cơ thể sản sinh dopamine-1 chất dẫn truyền thần kinh có vai trò ngăn cản sự dài ra của trục nhãn cầu, qua đó góp phần làm giảm quá trình tăng độ của trẻ.

Phương pháp quang học

  1. Kính gọng

Trước đây, có ý kiến cho rằng việc không đeo kính hoặc đeo kính thấp hơn độ thực tế có thể làm mắt bé ít tăng độ hơn. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu gần đây, việc đeo kính thấp hơn độ thực tế không những  không có tác dụng làm chậm quá trình tăng độ mà có thể làm cho mắt trẻ tăng độ nhiều hơn so với đeo kính đúng độ.

Hiện nay, kính hai tròng Executive đã được chứng minh là có thể làm giảm tốc độ tiến triển độ cận ở trẻ nhỏ. Đây là phương pháp đơn giản và an toàn trong việc kiểm soát cận thị ở trẻ nhỏ.

Ngoài ra, kính đa tròng và kính đơn tròng với vùng mờ chu biên (peripheral defocus spectacles) cũng có tác dụng trong  việc kiểm soát cận thị ở trẻ nhỏ.

  1. Kính tiếp xúc (Kính áp tròng)

Kính tiếp xúc  mềm đa tiêu  hoặc kính tiếp xúc đeo ban đêm (Ortho-K) là những phương pháp kiểm soát cận thị hiệu quả được các chuyên gia khuyên dùng. Tuy nhiên,  chi phí và sự tuân thủ vệ sinh của bé là những vấn đề cần được cân nhắc.

Phương pháp dùng thuốc liệt điều tiết

Atropine liều thấp đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu là phương pháp hiệu quả trong việc làm chậm quá trình tiến triển cận thị ở trẻ nhỏ. Atropine là thuốc liệt điều tiết thường được sử dụng trong khám khúc xạ ở trẻ nhỏ. Tác dụng phụ thường gặp của thuốc nhỏ mắt atropine bao gồm mờ mắt, chói sáng, khô miệng,… Tuy nhiên, atropine liều thấp (0.01%) đã được chứng minh là an toàn cho trẻ nhỏ và có tác dụng trong việc kiểm soát cận thị. Ta cần đưa bé đến các phòng khám hay bệnh viện chuyên khoa để được tư vấn kĩ hơn về phương pháp này.

Create by CTTN Inc