icon flag icon flag

Viễn thị bẩm sinh là gì? Viễn thị bẩm sinh di truyền không?

Viễn thị bẩm sinh là gì? Viễn thị bẩm sinh di truyền không?

Viễn thị bẩm sinh là một dạng tật khúc xạ xuất hiện ngay từ khi trẻ chào đời, do cấu trúc nhãn cầu phát triển không bình thường khiến mắt khó nhìn rõ ở khoảng cách gần. Nhiều trường hợp viễn thị bẩm sinh liên quan chặt chẽ đến yếu tố di truyền, đặc biệt khi trong gia đình đã có cha mẹ mắc viễn thị. Hiểu rõ viễn thị bẩm sinh là gì, viễn thị bẩm sinh có di truyền không, triệu chứng, biến chứng và các phương pháp can thiệp sẽ giúp cha mẹ chủ động hơn trong việc bảo vệ đôi mắt của con ngay từ những năm đầu đời.

Mục lục

    Viễn thị bẩm sinh là gì?

    Viễn thị bẩm sinh là tình trạng trẻ sinh ra đã mắc viễn thị, nghĩa là mắt có xu hướng nhìn xa rõ hơn nhìn gần ngay từ nhỏ. Trục nhãn cầu của trẻ viễn thị bẩm sinh thường ngắn hơn bình thường hoặc giác mạc, thuỷ tinh thể qua phẳng, khiến các tia sáng không hội tụ đúng trên võng mạc mà hội tụ phía sau. Hậu quả là hình ảnh vật ở gần bị mờ, nhoè trong khi các vật ở xa (khoảng từ 6 mét trở lên) có thể nhìn rõ hơn.

    Hầu như mọi trẻ sơ sinh đều có một mức viễn thị sinh lý nhẹ do nhãn cầu còn nhỏ. Khi trẻ lớn lên (khoảng 2-3 tuổi) trục nhãn cầu dài ra, độ viễn này có thể giảm dần và biến mất. Tuy nhiên nếu mắt phát triển chậm hoặc không đạt, viễn thị sẽ không tự cải thiện. Khi trẻ bước vào cấp 1 cần tập trung nhìn gần nhiều, các biểu hiện viễn thị bẩm sinh sẽ rõ hơn:

    • Trẻ hay nheo mắt, dụi mắt, cố rướn mắt để nhìn rõ.
    • Dễ đỏ mắt, nhức mắt, khô mắt do điều tiết quá mức.
    • Khó khăn khi đọc sách, xem hình, chơi đồ chơi gần mắt.
    • Mất tập trung khi học, chán học, không muốn ngồi lâu ở bàn.
    • Có dấu hiệu lác (lé), hai lòng đen xu hướng quay vào trong (lác trong).

    Đây đều là những cảnh báo cho thấy trẻ có thể đang bị viễn thị bẩm sinh nhưng chưa được phát hiện và điều chỉnh kịp thời.

    Nguyên nhân gây viễn thị bẩm sinh

    Viễn thị bẩm sinh chủ yếu do yếu tố di truyền, khi trục nhãn cầu ngắn hoặc giác mạc khiến tia sáng không hội tụ đúng trên võng mạc. Bên cạnh đó một số bất thường nhiễm sắc thể, hội chứng di truyền cũng như dinh dưỡng kém, mẹ hút thuốc, sinh non cũng làm tăng nguy cơ trẻ mắc viễn thị ngay từ khi sinh.

    Viễn thị bẩm sinh có di truyền không?

    Viễn thị bẩm sinh có liên quan rất chặt chẽ đến yếu tố di truyền. Nhiều nguyên cứu ghi nhận nếu cha mẹ, anh chị em ruột bị viễn thị (đặc biệt viễn thị trung bình - nặng) nguy cơ trẻ mắc viễn thị bẩm sinh sẽ cao hơn so với trẻ không có tiền sử gia đình. Gen di truyền ảnh hưởng đến sự phát triển nhãn cầu, giác mạc, thuỷ tinh thể từ đó quyết định phần nào mắt có bị viễn thị hay không.

    Một số đột biến gen liên quan bất thường khúc xạ đã được phát hiện, ví dụ gen MYRF tham gia điều hoà sự phát triển cấu trúc mắt. Mất đoạn nhiễm sắc thể 16p11.2 cũng được cho là có liên quan đến các bất thường phát triển nhãn cầu, trong đó có viễn thị.

    Ngoài ra viễn thị bẩm sinh còn có thể xuất hiện trong bối cảnh một số hội chứng di truyền như hội chứng Down, Fragile X, Loeys-Dietz, Heimler, bệnh Leber bẩm sinh,... Những rối loạn này có thể làm thay đổi cấu trúc mắt hoặc đường dẫn truyền thị giác, dẫn đến viễn thị từ khi sinh.

    Nguyên nhân thứ phát (yếu tố môi trường)

    Bên cạnh di truyền, môi trường trong thai kỳ cũng ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển mắt và thị lực của trẻ:

    • Mẹ hút thuốc lá (kể cả thụ động) trong lúc mang thai làm tăng nguy cơ rối loạn phát triển thần kinh và giác mạc, từ đó tăng nguy cơ tật khúc xạ bẩm sinh bao gồm viễn thị.
    • Thiếu hụt dinh dưỡng nhất là Vitamin A và Beta-Carotene, axit folic, omega-3 cùng các vi chất khác có trong 10 thực phẩm tốt cho thị lực có thể ảnh hưởng đến sự hình thành, hoàn thiện võng mạc, giác mạc, thần kinh thị giác.
    • Tiếp xúc với hoá chất độc hại, kim loại nặng, bức xạ trong thai kỳ là yếu tố nguy cơ cho nhiều bất thường bẩm sinh, trong đó có bất thường cấu trúc nhãn cầu.
    • Trẻ sinh non, nhẹ cân thường có nguy cơ cao hơn gặp rối loạn thị giác, do mắt chưa hoàn tất quá trình phát triển trong tử cung.

    Vì vậy ngoài yếu tố di truyền khó thay đổi, chăm sóc thai kỳ lành mạnh, dinh dưỡng đầy đủ và tránh các yếu tố độc hại có vai trò rất quan trọng trong việc giảm nguy cơ viễn thị bẩm sinh.

    Triệu chứng và biến chứng của viễn thị bẩm sinh

    Ở giai đoạn sơ sinh và vài năm đầu đời, viễn thị bẩm sinh có thể không biểu hiện rõ, nhất là khi độ viễn nhẹ và trẻ chưa hoạt động nhìn gần nhiều. Từ 5-10 tuổi khi trẻ bắt đầu đọc - viết, học bài, sử dụng thị giác gần thường xuyên các triệu chứng sẽ rõ hơn.

    Triệu chứng thường gặp:

    • Nhìn mờ khi nhìn gần: Đọc sách, viết bài, tô màu, xếp hình,... đều khó, phải đưa ra xa hoặc nhờ người khác đọc hộ.
    • Nheo mắt, căng mắt khi đọc: Trẻ hay nheo, cau mày, nghiêng đầu để tìm điểm nhìn rõ.
    • Nhức mắt, đau đầu nhất là vào cuối ngày học do phải điều tiết lâu.
    • Cảm giác đau âm ỉ trong mắt, vùng trán, quanh hốc mắt, đôi khi tham mỏi mắt.
    • Có tình trạng dụi mắt hoặc chớp mắt liên tục.
    • Giảm hứng thú với việc đọc, viết, học tập vì luôn thấy mờ, mệt, chán.

    Những biến chứng gây ra nếu như không được điều trị kịp thời:

    • Nhược thị (mắt lười): Khi một mắt viễn thị nặng hơn mắt kia, não có xu hướng bỏ qua hình ảnh mờ ở mắt nặng, chỉ dùng mắt nhìn rõ. Lâu dần mắt yếu không phát triển thị lực tối đa dẫn tới nhược thị, dù đeo kính đúng độ sau này mắt cũng khó đạt được thị lực chuẩn.
    • Lác mắt (lé mắt): Viễn thị buộc mắt phải điều tiết nhiều để nhìn gần, dễ gây mất cân bằng điều tiết - quy tụ dẫn đến lác trong. Lác làm giảm khả năng phối hợp hai mắt, mất thị giác lập thể ảnh hưởng đến định vị không gian.
    • Mỏi mắt mạn tính: Mắt luôn gồng điều tiết để bù viễn thị gây mỏi, khô, nhức mắt, đau đầu kéo dài ảnh hưởng chất lượng cuộc sống và hiệu suất học tập.
    • Giảm hiệu suất học tập: Trẻ viễn thị chưa chỉnh kính dễ đọc - viết sai, chậm hay mất dòng, không muốn học, thiếu tự tin khi tham gia các hoạt động học tập.
    • Tăng nguy cơ bệnh lý mắt về sau: Viễn thị không được chỉnh có thể làm tăng nguy cơ nhãn áp góc đóng và một số bệnh lý khác khi trẻ lớn lên.

    Viễn thị bẩm sinh có chữa được không?

    Viễn thị bẩm sinh là hệ quả của cấu trúc nhãn cầu và hệ khúc xạ, nên không thể chữa khỏi hoàn toàn chỉ bằng thuốc hay tập luyện. Tuy vậy mục tiều điều trị là chỉnh thị lực tốt nhất có thể giúp trẻ nhìn rõ, học tập bình thường và phòng tránh nhược thị, lác.

    Đeo kính thuốc hoặc kính áp tròng

    Đeo kính gọng là phương pháp điều chỉnh hàng đầu cho viễn thị bẩm sinh ở trẻ em. Kính dùng thấu kính hội tụ (+D) để đưa điểm hội tụ tia sáng về đúng trên võng mạc, giảm gánh nặng điều tiết. Khi nhìn qua kính đúng độ trẻ có thể nhìn rõ hơn cả xa lẫn gần, bớt mỏi mắt, đâu đầu.

    Với trẻ lớn, ý thức tốt và hoạt động thể thao nhiều, kính áp tròng mềm có thể là lựa chọn thay thế về mặt thẩm mỹ và tiện lợi, nhưng cần phụ huynh giám sát chặt chẽ việc đeo - tháo, vệ sinh.

    Ở một số trường hợp viễn thị cao hoặc kèm lác, bác sĩ có thể kê kính đặc biệt như kính đa tròng, kính hỗ trợ điều tiết nhằm giảm mỏi mắt, hỗ trợ luyện thị cho mắt yếu, hạn chế nguy cơ nhược thị bẩm sinh. Kế hoạc điều trị thường kết hợp chính kính, theo dõi nhược thị và nếu cần bịt mắt luân phiên để luyện mắt yếu.

    Phẫu thuật

    Phẫu thuật khúc xạ (LASIK, PRK, SMILE,...) chủ yếu áp dụng cho người trưởng thành khi độ khúc xạ đã ổn định. Các phương pháp này thay đổi độ cong giác mạc để chỉnh Diop viễn thị, giúp ánh sáng hội tụ chính xác lên võng mạc mà không cần kính gọng.

    Cấy ghép kính nội nhãn (IOL) có thể được cân nhắc trong một số trường hợp đặc biệt như viễn thị nặng bẩm sinh, bất thường thuỷ tinh thể hoặc không có thuỷ tinh thể. Khi đó bác sĩ có thể thay thuỷ tinh thể bằng thấu kính nhân tạo phù hợp, cải thiện đáng kể khả năng nhìn. Tuy nhiên đây là phẫu thuật chuyên sâu, chỉ áp dụng khi cần thiết.

    Ngoài chỉnh kính và phẫu thuật, việc giữ ánh sáng học tập phù hợp cho trẻ nghỉ mắt sau mỗi 20-30 phút nhìn gần, kết hợp chế độ dinh dưỡng giàu vitamin A, C, E, omega-3, lutein,... cũng góp phần bảo vệ mắt, hỗ trợ điều trị.

    Cách phòng ngừa viễn thị bẩm sinh cho trẻ

    Cách phòng ngừa viễn thị bẩm sinh chủ yếu dựa vào chăm sóc thai kỳ lành mạnh và khám mắt sớm cho trẻ. Mẹ bầu cần tránh rượu bia, thuốc lá, hoá chất độc hai, ăn uống đủ chất với nhiều vitamin A, C, E, omega-3, axit folic,... Sau sinh nên cho trẻ kiểm tra thị lực theo mốc 6 tháng, 3 tuổi trước khi vào lớp 1 và tái khám định kỳ để phát hiện sớm tật khúc xạ, chỉnh kính kịp thời, hạn chế lác, nhược thị và suy giảm thị lực lâu dài.

    Sàng lọc trước khi sinh và chăm sóc thai kỳ đúng cách

    Nếu gia đình có tiền sử bệnh lý di truyền hoặc tật khúc xạ nặng, cha mẹ có thể tham khảo các xét nghiệm sàng lọc trước sinh như NIPT để đánh giá nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể. Đồng thời cần:

    • Tránh rượu bia, thuốc lá, chất gây nghiện, hạn chế tiếp xúc hoá chất độc.
    • Duy trì chế độ ăn đầy đủ vitamin A, C, E, omega-3, kẽm, axit folic,...
    • Khám thai định kỳ, theo dõi sát phát triển thai nhi.

    Kiểm tra thị lực sớm và theo dõi định kỳ

    Sau khi trẻ sinh kiểm tra mắt định kỳ giúp phát hiện sớm viễn thị bẩm sinh:

    • Khám mắt lần đầu khoảng 6 tháng tuổi.
    • Khám lại khi trẻ khoảng 3 tuổi.
    • Khám trước khi vào lớp 1 và định kỳ 6-12 tháng trong giai đoạn đi học.

    Nếu cha mẹ thấy trẻ nheo mắt, dụi mắt nhiều, khó tập trung khi nhìn gần, than mỏi mắt, đau đầu hoặc có biểu hiện lé, cần đưa trẻ đi khám tật khúc xạ càng sớm càng tốt.

    Câu hỏi thường gặp về viễn thị bẩm sinh

    Cha me thường thắc mắc viễn thi bẩm sinh bao nhiêu độ là nặng, có di truyền không, viễn thị ở trẻ em có chữa được không hay có cần mổ không. Dù không thể thay đổi hoàn toàn cấu trúc mắt, viễn thị bẩm sinh vẫn có thể kiểm soát tốt bằng đeo kính đúng độ, khám mắt định kỳ và can thiệp kịp thời để phòng nhược thị, lác và giúp trẻ duy trì thị lực ổn định.

    Viễn thị bẩm sinh bao nhiêu độ là nặng?

    Không có một ngưỡng duy nhất cho mọi trẻ, nhưng thường viễn thị trên khoảng +4.00D được xem là cao và có nguy cơ gây nhược thị, lác nếu không chỉnh kính. Bác sĩ sẽ kết hợp mức Diop, chênh lệch hai mắt và kết quả khám thị lực để đánh giá chính xác.

    Viễn loạn bẩm sinh có chữa được không?

    Viễn loạn bẩm sinh là khi trẻ vừa có viễn thị, vừa có loạn thị. Cấu trúc mắt khôgn thể chữa khỏi hoàn toàn, nhưng đeo kính gọng đúng độ, kết hợp luyện thị và theo dõi nhược thị sớm có thể giúp mắt đạt thị lực tối đa và hạn chế biến chứng.

    Mắt viễn thị bẩm sinh có mổ được không?

    Ở trẻ em phẫu thuật khúc xạ thường chưa được áp dụng vì mắt còn đang phát triển. Phẫu thuật chỉ cân nhắc trong một sô trường hợp đặc biệt (như bất thường thuỷ tinh thể, viễn thị rất nặng kèm bệnh lý khác) và phải do bác sĩ chuyên khoa chỉ định. Khi trẻ đến tuổi trưởng thành, độ khúc xạ ổn định có thể đánh giá thêm khả năng phẫu thuật khúc xạ như người lớn.

    Lời kết

    Viễn thị bẩm sinh là tật khúc xạ xuất hiện sớm, có nền tảng di truyền mạnh nhưng hoàn toàn có thể kiểm soát tốt, nếu được phát hiện và điều chỉnh đúng lúc. Thay vì chờ đến khi trẻ than nhìn mờ hoặc học kém mới đi khám, cha mẹ nên chủ động kiểm tra mắt cho con từ sớm, nhất là khi trong gia đình đã có người bị viễn thị. Càng can thiệp sớm khả năng bảo vệ được thị lực tối ưu cho trẻ, hạn chế lác, nhược thị và các biến chứng về sau càng cao. Theo dõi tin tức và cập nhật cách chăm sóc mắt sẽ giúp ba mẹ bảo vệ thị lực cho trẻ tốt hơn mỗi ngày.

    Đang xem: Viễn thị bẩm sinh là gì? Viễn thị bẩm sinh di truyền không?

    Đăng ký nhận tin
    ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN MẮT VIỆT
    Để nhận những thông tin và khuyến mãi mới nhất từ Mắt Việt
    mv_support
    Danh mục